Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao nhằm nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại của thành phố Hải Phòng trong thời kỳ mới
LỜI MỞ ĐẦU
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, đối ngoại luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng, vừa góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, vừa mở rộng quan hệ, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Kế thừa và phát huy truyền thống ngoại giao của dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa, tư tưởng và kinh nghiệm của nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển tư duy và nghệ thuật đối ngoại Việt Nam lên một tầm cao mới, hình thành hệ thống quan điểm sâu sắc về mục tiêu, nguyên tắc, phương châm và phương pháp đối ngoại, tạo nên những giá trị lý luận và thực tiễn có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Đối với Hải Phòng, với vị trí là thành phố cảng, trung tâm công nghiệp, logistics và cửa ngõ giao thương quốc tế quan trọng của miền Bắc, công tác đối ngoại có vai trò ngày càng thiết thực trong mở rộng không gian phát triển, thu hút nguồn lực, tăng cường liên kết quốc tế và nâng cao vị thế của thành phố. Trong quá trình phát triển, đối ngoại không chỉ góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ các mục tiêu an ninh và phát triển, mà ngày càng trở thành một “hạ tầng mềm”[1] quan trọng, tạo thêm không gian, nguồn lực và cơ hội phát triển mới cho thành phố.
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển dịch chuỗi cung ứng, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, khoa học - công nghệ và các vấn đề an ninh phi truyền thống đang tạo ra cả cơ hội và thách thức mới, việc nghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại vào thực tiễn Hải Phòng có ý nghĩa thiết thực. Đây không chỉ là yêu cầu về mặt lý luận mà còn là cơ sở để tiếp tục đổi mới tư duy, phương thức và nội dung triển khai công tác đối ngoại theo hướng chủ động, toàn diện, thực chất và hiệu quả; qua đó góp phần huy động nguồn lực bên ngoài, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phục vụ mục tiêu xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố cảng xanh, văn minh, hiện đại, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng.

I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ LỜI CĂN DẶN CỦA BÁC VỀ CÔNG TÁC NGOẠI GIAO
1. Các nội dung cốt lõi trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là một hệ thống toàn diện các quan điểm, nguyên tắc, phương pháp và nghệ thuật ngoại giao nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Những giá trị cốt lõi bao gồm:
Một là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhất quán ở việc kiên định mục tiêu độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và hòa bình của đất nước, đồng thời linh hoạt về phương pháp, sách lược theo tinh thần “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.[2] Trong đó, “bất biến” là những nguyên tắc, lợi ích cốt lõi của quốc gia và nhân dân; “vạn biến” là sự chủ động, linh hoạt, mềm dẻo trong xử lý quan hệ đối ngoại trước những biến động của tình hình. Tư tưởng đó tiếp tục được kế thừa, phát triển trong đường lối đối ngoại hiện nay qua “ngoại giao cây tre Việt Nam”[3], với phương châm kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.
Hai là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại[4]. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một nguyên tắc quan trọng trong cách mạng Việt Nam. Theo đó, phải phát huy nội lực, giữ vững độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế và những xu thế thuận lợi của thời đại, nhất là hòa bình, hợp tác và phát triển.
Trong hoạt động đối ngoại, tư tưởng này được thể hiện ở việc gắn kết chặt chẽ nội lực với ngoại lực, lợi ích quốc gia – dân tộc với lợi ích chung của nhân loại; mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi, qua đó tranh thủ nguồn lực, tri thức và thành tựu của thế giới phục vụ xây dựng, phát triển đất nước.
Tinh thần cốt lõi là “dựa vào sức mình là chính”, đồng thời chủ động hội nhập, tranh thủ ngoại lực và chuyển hóa hiệu quả các quan hệ đối ngoại thành nguồn lực phục vụ phát triển, góp phần nâng cao vị thế và sức mạnh tổng hợp của đất nước.
Ba là, các nguyên tắc trong quan hệ quốc tế[5]. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc trong quan hệ quốc tế trước hết phải bảo đảm tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi quốc gia; không xâm phạm, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; bình đẳng, cùng có lợi và chung sống hòa bình. Trên nền tảng đó, Người chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng hữu nghị, hợp tác, đa phương hóa, đa dạng hóa, “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa kiên định nguyên tắc và linh hoạt về sách lược, giữa bảo vệ lợi ích dân tộc với đóng góp vào hòa bình, hợp tác và tiến bộ của nhân loại. Quan hệ quốc tế, theo Người, không phải là sự áp đặt hay lệ thuộc, mà phải được xây dựng trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, tin cậy và cùng có lợi, qua đó tranh thủ sức mạnh thời đại để củng cố độc lập, xây dựng và phát triển đất nước.
Bốn là, phát huy “sức mạnh mềm”[6]. Theo tư tưởng và phong cách đối ngoại Hồ Chí Minh, phát huy “sức mạnh mềm” trước hết bắt nguồn từ sức hấp dẫn của văn hóa, nhân nghĩa và cách ứng xử chân thành, thủy chung. Người luôn coi trọng hòa hiếu, tôn trọng sự khác biệt, đề cao tình người và tìm kiếm những điểm đồng để xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác. Sự chân thành tạo dựng niềm tin, còn thủy chung tạo nên sự bền vững của tình bạn và quan hệ hợp tác. Bằng phong cách ngoại giao giản dị, tinh tế, nhân ái và nhất quán giữa lời nói với hành động, Hồ Chí Minh đã tạo sức cảm hóa sâu sắc, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế, qua đó kết hợp hiệu quả sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Bài học đặt ra là: trong hội nhập quốc tế, sức mạnh mềm không chỉ được tạo nên bởi tiềm lực kinh tế hay hình ảnh quốc gia, mà còn từ uy tín, văn hóa ứng xử, sự chân thành, nghĩa tình và lòng thủy chung trong quan hệ với các đối tác. Đây là nền tảng để xây dựng lòng tin, mở rộng bạn bè, gia tăng đồng thuận và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Năm là, trọng dân, lấy dân làm gốc[7]. Tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định sức mạnh của đất nước bắt nguồn từ nhân dân; mọi chủ trương, chính sách phải hướng tới lợi ích và hạnh phúc của nhân dân. Vận dụng vào công tác đối ngoại, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh là sự kết hợp giữa bản lĩnh, trí tuệ, văn hóa, sự chân thành với tinh thần phụng sự đất nước, phục vụ nhân dân. Theo đó, hoạt động đối ngoại phải xuất phát từ thực tiễn, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc và lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục tiêu. Qua đó, đối ngoại không chỉ mở rộng quan hệ và tạo dựng môi trường hòa bình, mà còn trực tiếp góp phần huy động nguồn lực quốc tế phục vụ phát triển, để mọi thành quả của hội nhập hướng tới mục tiêu cuối cùng là lợi ích của đất nước và nhân dân.
2. Lời căn dặn của Bác đối với Hải Phòng
Nhìn lại chặng đường lịch sử, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Hải Phòng luôn tự hào sâu sắc khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh dành tình cảm đặc biệt cùng 11 lần trực tiếp về thăm và làm việc[8]. Qua mỗi chuyến thăm, những lời căn dặn của Người đã trở thành kim chỉ nam và động lực tinh thần vô giá cho sự phát triển của thành phố. Ngay từ lần đầu tiên về thăm năm 1946, Bác đã nhắn nhủ đồng bào miền biển “thực hành đời sống mới, ra sức kiến thiết”, nêu cao tinh thần đoàn kết và cảnh giác cách mạng; yêu cầu giai cấp công nhân phải thi đua tăng năng suất, chấp hành nghiêm kỷ luật lao động; nông dân và ngư dân hăng hái sản xuất, khắc ghi lời dạy “rừng là vàng, biển là bạc” để khai thác, bảo vệ và làm giàu cho quê hương. Bác căn dặn lực lượng vũ trang phải luôn cảnh giác, dựa chắc vào Nhân dân để làm tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh người cán bộ từ Trung ương đến cơ sở đều là “đầy tớ của nhân dân”. Đặc biệt, việc Người trực tiếp đón 922 kiều bào từ Thái Lan trở về nước tại Cảng Hải Phòng năm 1960 thể hiện sâu sắc tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, kết nối người Việt Nam ở nước ngoài với sự nghiệp xây dựng đất nước.
Từ những chỉ huấn sâu sắc và hoạt động thực tiễn của Người, có thể khái quát những định hướng có giá trị cốt lõi đối với công tác đối ngoại của Hải Phòng hiện nay: đó là phát huy tối đa vị trí cửa ngõ quốc tế và lợi thế kinh tế biển; chủ động mở rộng giao lưu, hợp tác và tiếp thu các thành tựu tiến bộ của thế giới; nâng cao năng lực hội nhập cho đội ngũ cán bộ và Nhân dân; kết nối, phát huy hiệu quả nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương; đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, mở rộng đối ngoại với bảo đảm quốc phòng, an ninh và giữ vững chủ quyền quốc gia. Đây chính là những giá trị trường tồn có ý nghĩa kế thừa sâu sắc, tạo nền tảng vững chắc để Hải Phòng bứt phá, quyết tâm xây dựng thành phố Cảng ngày càng hiện đại, văn minh, trở thành trung tâm kết nối quốc tế và đi đầu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
II. VIỆC THỰC HIỆN, VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO THỰC TIỄN CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG THỜI GIAN QUA[9]
Thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, trong nhiệm kỳ qua, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân thành phố Hải Phòng đã chủ động triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả công tác đối ngoại, đạt được những kết quả nổi bật trên tất cả các kênh và lĩnh vực.
1. Đặt lợi ích phát triển của thành phố và Nhân dân làm trung tâm
Hải Phòng đã cụ thể hóa đầy đủ, kịp thời các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương về công tác đối ngoại (Nghị quyết 34-NQ/TW, Nghị quyết 59-NQ/TW, Nghị quyết 06-NQ/TW, Nghị quyết số 23-NQ/TW, Chỉ thị 15-CT/TW, Kết luận 12-KL/TW, …) thông qua hệ thống Kế hoạch, Chương trình hành động bài bản. Thành phố luôn kiên định mục tiêu “an ninh - phát triển - vị thế”[10], lấy hiệu quả phục vụ người dân và cộng đồng doanh nghiệp làm thước đo cao nhất.
Thành phố chủ động ứng phó với những khó khăn, thách thức từ biến động địa chính trị, dịch bệnh và những yếu tố bất định của môi trường quốc tế, duy trì đà tăng trưởng và củng cố niềm tin của đối tác, nhà đầu tư quốc tế. Quá trình triển khai thể hiện sự vận dụng quan điểm kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về phương pháp, kết hợp chặt chẽ giữa bảo đảm an ninh, giữ vững môi trường hòa bình với chủ động tranh thủ các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển. Qua đó, đối ngoại từng bước trở thành một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển thành phố, góp phần mở rộng không gian hợp tác, huy động nguồn lực quốc tế, nâng cao năng lực hội nhập và vị thế của Hải Phòng.
2. Nâng tầm ngoại giao kinh tế: Chuyển từ “thu hút” sang “lựa chọn”, từ “ký kết” sang “thực thi”[11]
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mở rộng quan hệ quốc tế, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phục vụ kiến thiết đất nước, Hải Phòng từng bước xác định ngoại giao kinh tế là một trụ cột quan trọng của công tác đối ngoại, gắn kết chặt chẽ với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Tư duy và phương thức triển khai có sự chuyển biến theo hướng chủ động xác định nhu cầu phát triển để lựa chọn đối tác phù hợp; coi trọng chất lượng, hiệu quả của hợp tác và chú trọng phát huy giá trị sau kết nối.
Thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn quốc tế: Hải Phòng tiếp tục là địa bàn thu hút dòng vốn FDI quy mô lớn, với hơn 1.800 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký gần 52 tỷ USD từ 42 quốc gia và vùng lãnh thổ[12]; trong đó có sự hiện diện của nhiều tập đoàn, doanh nghiệp quốc tế trong các lĩnh vực công nghiệp, công nghệ và năng lượng như LG, SK, Pegatron, BP, Orsted.... Qua đó, góp phần bổ sung nguồn lực cho tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng cường liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu.
Đổi mới tư duy và phương thức xúc tiến đối ngoại kinh tế: Thành phố từng bước chuyển từ “có đối tác mới tìm nội dung” sang “xác định nhu cầu phát triển để tìm kiếm đối tác”, chủ động xúc tiến đầu tư, thương mại và kết nối doanh nghiệp. Giai đoạn 2021–2025, Hải Phòng tổ chức gần 30 đoàn xúc tiến, quảng bá tại gần 20 quốc gia, vùng lãnh thổ; đón trên 1.000 đoàn khách quốc tế, trong đó có 20 đoàn cấp cao và hàng trăm đoàn đại sứ[13]. Đồng thời, đổi mới phương thức kết nối thông qua ngoại giao cấp lãnh đạo, ngoại giao doanh nghiệp, CEO và khoa học - công nghệ, từng bước gắn hoạt động đối ngoại với nhu cầu cụ thể về vốn, công nghệ, thị trường và nguồn nhân lực.
Chú trọng “hậu kết nối”, chuyển quan hệ thành kết quả thực chất: Thành phố duy trì hệ thống 88 thỏa thuận quốc tế cấp thành phố và cấp Sở, ngành, địa phương[14] và từng bước nâng cao hiệu quả triển khai sau ký kết, theo dõi, đôn đốc và hỗ trợ các nội dung hợp tác, chú trọng thúc đẩy các thỏa thuận hợp tác kinh tế chuyên sâu. Trọng tâm chuyển từ “ký kết để mở rộng quan hệ” sang “triển khai để tạo giá trị”, hướng tới hình thành các chương trình, dự án cụ thể trong lĩnh vực cảng biển - logistics, công nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi xanh, năng lượng và các ngành, lĩnh vực ưu tiên.
Gắn ngoại giao kinh tế với nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước: Hoạt động đối ngoại kinh tế không chỉ hướng tới thu hút các tập đoàn lớn mà ngày càng chú trọng kết nối doanh nghiệp trong nước với đối tác, thị trường và chuỗi cung ứng quốc tế. Các hoạt động đối thoại, tọa đàm, kết nối doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp Trung Quốc, Hàn Quốc và các đối tác khác góp phần cung cấp thông tin, mở rộng cơ hội hợp tác, qua đó nâng cao năng lực hội nhập và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp thành phố.
3. Mở rộng không gian đối ngoại đa phương và làm sâu sắc quan hệ với các đối tác chiến lược
Hải Phòng tiếp tục củng cố, làm sâu sắc quan hệ với 31 địa phương của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU, Lào, Campuchia...[15], mở rộng hợp tác về đầu tư, thương mại, công nghệ, năng lượng sạch, đào tạo... Quan hệ đối ngoại từng bước chuyển từ duy trì quan hệ sang tăng cường hợp tác thực chất, gắn với nhu cầu phát triển của thành phố.
Thành phố chủ động tham gia các mạng lưới, diễn đàn quốc tế như Mạng lưới các thành phố phát triển bền vững khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (CITYNET), Hiệp hội các vịnh đẹp nhất thế giới (MBBW), Thị trường vì hòa bình (Mayors for Peace), qua đó mở rộng không gian hợp tác và nâng cao vị thế. Việc Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà và Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh Di sản thế giới tạo thêm điều kiện để Hải Phòng tăng cường quảng bá hình ảnh, giao lưu văn hóa và mở rộng hợp tác quốc tế.
4. Đổi mới ngoại giao văn hóa, thông tin đối ngoại và phát huy nguồn lực kiều bào
Triển khai Chiến lược Ngoại giao văn hóa đến năm 2030[16], từng bước phát huy giá trị văn hóa, di sản và bản sắc Hải Phòng, góp phần quảng bá hình ảnh và nâng cao sức mạnh mềm của thành phố. Đổi mới nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, phát huy hiệu quả hệ thống các cơ quan báo chí, cổng thông tin điện tử và mạng xã hội của thành phố; phối hợp đón tiếp 61 đoàn phóng viên, hãng thông tấn quốc tế đến tác nghiệp giai đoạn 2021-2025[17], góp phần quảng bá hình ảnh Hải Phòng năng động, an toàn, hấp dẫn và hội nhập.
Với cộng đồng hơn 70.000 kiều bào Hải Phòng tại 58 quốc gia, thành phố tăng cường kết nối, vận động và phát huy nguồn lực cộng đồng người Hải Phòng ở nước ngoài[18]; tổ chức hiệu quả các hoạt động “Xuân Quê hương”, kết nối kiều bào, qua đó huy động nguồn lực kiều hối, đầu tư, tri thức và các hoạt động an sinh xã hội, đóng góp thiết thực vào phát triển thành phố. Trong 5 năm qua, lượng kiều hối gửi về thành phố ước đạt 1,4 tỷ USD[19], cùng hàng triệu USD viện trợ phi chính phủ[20], đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội và an sinh xã hội địa phương.
5. Kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh
Hải Phòng chú trọng phối hợp đồng bộ giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân và đối ngoại quốc phòng - an ninh; bảo đảm an ninh, an toàn cho các hoạt động đối ngoại, các đoàn khách quốc tế và chuyến thăm của tàu quân sự nước ngoài, giải quyết dứt điểm các vụ việc lãnh sự[21], bảo hộ công dân Hải Phòng ở nước ngoài, không để xảy ra các điểm nóng. Đồng thời, chủ động phòng ngừa, xử lý các thách thức an ninh phi truyền thống, góp phần giữ vững chủ quyền biển, đảo, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
III. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM TIẾP TỤC NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI CỦA THÀNH PHỐ TRONG THỜI KỲ MỚI
Để góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố có trình độ phát triển cao, có vị thế ngày càng lớn trong khu vực và quốc tế, công tác đối ngoại cần tiếp tục phát huy vai trò đi trước mở đường, kết nối nguồn lực và kiến tạo không gian phát triển, trên cơ sở vận dụng linh hoạt tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Một là, đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức ngoại giao kinh tế. Chuyển từ “thu hút” sang “lựa chọn” đối tác và dự án; ưu tiên công nghệ cao, R&D, kinh tế xanh, kinh tế biển và logistics hiện đại; chuẩn hóa quy trình từ nhu cầu - đối tác - kết nối - đàm phán - triển khai - theo dõi - hỗ trợ sau kết nối - đánh giá hiệu quả, lấy kết quả thực chất làm thước đo.
Hai là, mở rộng không gian hội nhập, đẩy mạnh ngoại giao khoa học - công nghệ và ngoại giao số. Đa dạng hóa đối tác, chủ động kết nối các trung tâm kinh tế, khoa học - công nghệ lớn; tranh thủ tri thức, công nghệ và nguồn lực quốc tế phục vụ đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực. Đây là hướng phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết 57-NQ/TW về tiếp thu, hấp thụ và làm chủ thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến của thế giới.
Ba là, nâng cao sức mạnh mềm và vị thế quốc tế của thành phố. Gắn ngoại giao văn hóa, thông tin đối ngoại, đối ngoại nhân dân với quảng bá hình ảnh Hải Phòng; phát huy giá trị di sản, văn hóa và bản sắc thành phố Cảng; tăng cường đăng cai các sự kiện quốc tế và xây dựng thương hiệu thành phố theo hướng xanh, thông minh, năng động, hội nhập.
Bốn là, phát huy nguồn lực con người và nâng cao năng lực quản trị đối ngoại. Xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại có bản lĩnh, chuyên nghiệp, am hiểu quốc tế, giỏi ngoại ngữ và năng lực đàm phán; đồng thời kết nối hiệu quả đội ngũ trí thức, chuyên gia, doanh nhân người Hải Phòng ở nước ngoài, hình thành mạng lưới đối tác phục vụ phát triển.
KẾT LUẬN
Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao là di sản lý luận và thực tiễn mang giá trị trường tồn. Vận dụng sáng tạo di sản ấy trong giai đoạn hiện nay không chỉ là sự tiếp nối truyền thống lịch sử anh hùng, văn hiến của Thành phố Cảng, mà còn là mệnh lệnh của sự phát triển. Với thế và lực mới được tích lũy, cùng quyết tâm và sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và Nhân dân, công tác đối ngoại của Hải Phòng có cơ sở để tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả, thực sự trở thành nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, phát huy vai trò “tiên phong mở đường ra thế giới”, góp phần mở rộng không gian phát triển, huy động nguồn lực quốc tế và nâng cao vị thế của thành phố. Trên nền tảng đó, đối ngoại Hải Phòng sẽ tiếp tục đồng hành cùng quá trình kiến tạo diện mạo, định vị tầm nhìn phát triển, hướng tới xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố “hiện đại, văn minh, sinh thái và đáng sống, mang tầm cỡ khu vực Đông Nam Á vào năm 2030”, từng bước nâng cao vị thế trong khu vực và quốc tế, phấn đấu thực hiện các mục tiêu phát triển đến năm 2045.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Văn bản của Trung ương
Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/01/2019 về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Chính trị (2023), Nghị quyết số 34-NQ/TW ngày 09/01/2023 về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng.
Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài.
Ban Bí thư (2022), Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 05/01/2022 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả đối ngoại nhân dân trong tình hình mới.
Ban Bí thư (2022), Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 10/8/2022 về công tác ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển đất nước đến năm 2030.
II. Văn bản, tài liệu của thành phố Hải Phòng
Thành ủy Hải Phòng (2025), Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện các văn bản chỉ đạo của Đảng về đối ngoại trong nhiệm kỳ Đại hội XIII.
Thành ủy Hải Phòng (2026), Chương trình hành động số 36-CTr/TU ngày 10/9/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng.
Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2019), Kế hoạch số 5092/UBND-TH ngày 21/8/2019 về triển khai Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2020), Kế hoạch số 86/KH-UBND ngày 19/3/2020 về thực hiện Nghị quyết số 108/NQ-CP ngày 26/11/2019 của Chính phủ và Chương trình hành động số 76-CTr/TU ngày 08/7/2019 của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2022), Kế hoạch số 105/KH-UBND ngày 19/4/2022 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2021–2026.
Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2022), Kế hoạch số 274/KH-UBND ngày 05/12/2022 về triển khai Chiến lược Ngoại giao văn hóa thành phố Hải Phòng đến năm 2030.
Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2023), Chương trình hành động số 01/CTr-UBND ngày 27/3/2023 triển khai Kế hoạch số 217-KH/TU ngày 16/01/2023 của Ban Thường vụ Thành ủy và Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 20/02/2023 của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động giai đoạn 2022–2026 thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 10/8/2022 của Ban Bí thư về công tác ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển đất nước đến năm 2030.
Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2024), Kế hoạch số 41/KH-UBND ngày 22/02/2024 về thực hiện Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 05/7/2023 của Chính phủ về nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững giai đoạn 2023–2030.
Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2026), Kế hoạch số 52/KH-UBND ngày 13/02/2026 về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại của thành phố giai đoạn 2026–2030.
Thành ủy Hải Phòng (2025), Chương trình hành động số 05-CTr/TU ngày 25/8/2025 và Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2025), Kế hoạch số 316/KH-UBND ngày 12/11/2025 về thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW tại Hải Phòng.
[1] https://baotintuc.vn/gin-giu-mach-nguon-dan-toc-bai-3-ha-tang-mem-cua-ngoai-giao-van-hoa-post878779.html
[2] https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cuu-ly-luan2/-/2018/1238302/view_content
[3]https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/929902/truong-phai-doi-ngoai%2C-ngoai-giao-%E2%80%9Ccay-tre-viet-nam%E2%80%9D-trong-su-nghiep-doi-moi-dat-nuoc.aspx
[4] https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cuu-ly-luan2/-/2018/1238302/view_content
[5] https://hochiminh.vn/tin-tuc/tu-tuong-cua-bac-ho-ve-cac-nguyen-tac-trong-quan-he-quoc-te-1482
[6] https://lyluanchinhtri.vn/quyen-luc-mem-cua-ho-chi-minh-468.html
[7] https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/c-mac-angghen-lenin-ho-chi-minh/ho-chi-minh/nghien-cuu-hoc-tap-tu-tuong/chu-tich-ho-chi-minh-voi-quan-diem-lay-dan-lam-goc-2479
[8] Đề cương tuyên truyền những lần Bác Hồ về thăm và làm việc với đảng bộ, chính quyền và Nhân dân thành phố theo CÔng văn số 1328-CV/BTGDVTU ngày 18/09/2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hải Phòng.
[9] Sở Ngoại vụ thành phố Hải Phòng (2025), Nâng tầm đối ngoại: Vươn mình cùng sự phát triển bền vững của thành phố, Bài tham luận phục vụ Đại hội Đảng bộ thành phố Hải Phòng nhiệm kỳ 2025–2030.
Sở Ngoại vụ thành phố Hải Phòng (2025), Triển vọng “Kết nối toàn cầu” của thành phố Hải Phòng, Báo cáo tham luận chuyên đề phục vụ Đại hội Đảng bộ thành phố Hải Phòng nhiệm kỳ 2025-2030.
[10] Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2024), Kế hoạch số 155/KH-UBND ngày 09/7/2024 về triển khai Nghị quyết số 1035/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong lĩnh vực ngoại giao.
[11] Chương trình hành động số 05-CTr/TU ngày 25/8/2025 và Kế hoạch số 316/KH-UBND ngày 12/11/2025 thực hiện Nghị quyết 59-NQ/TW tại Hải Phòng.
Chương trình hành động số 36-CTr/TU ngày 10/09/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng
[12] Số liệu đến tháng 6/2026 tại Công văn số 5014/STC-KTĐN ngày 03/06/2026 của Sở Tài chính.
[13] Thành ủy Hải Phòng (2025), Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện các văn bản chỉ đạo của Đảng về đối ngoại trong nhiệm kỳ Đại hội XIII. Số liệu quản lý của Sở Ngoại vụ.
[14] Số liệu quản lý của Sở Ngoại vụ đến tháng 6/2026 tại Báo cáo số 316-BC/TU ngày 02/07/2026 của Thành ủy Hải Phòng về công tác đối ngoại 6 tháng đầu năm 2026 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
[15] Số liệu quản lý của Sở Ngoại vụ đến tháng 6/2026 tại Báo cáo số 316-BC/TU ngày 02/07/2026 của Thành ủy Hải Phòng về công tác đối ngoại 6 tháng đầu năm 2026 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
[16] Kế hoạch số 274/KH-UBND ngày 5/12/2022 của UBND TP triển khai Chiến lược Ngoại giao văn hóa của thành phố Hải Phòng đến năm 2030
[17] Thành ủy Hải Phòng (2025), Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện các văn bản chỉ đạo của Đảng về đối ngoại trong nhiệm kỳ Đại hội XIII. Số liệu quản lý của Sở Ngoại vụ.
[18] Số liệu cập nhật đến tháng 6/2026 tại Báo cáo số 316-BC/TU ngày 02/07/2026 của Thành ủy Hải Phòng về công tác đối ngoại 6 tháng đầu năm 2026 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
[19] Thành ủy Hải Phòng (2025), Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện các văn bản chỉ đạo của Đảng về đối ngoại trong nhiệm kỳ Đại hội XIII. Số liệu tổng hợp của Sở Ngoại vụ giai đoạn 2021-2025 theo nguồn cung cấp của Ngân hàng Nhà nước khu vực 6
[20] Thành ủy Hải Phòng (2025), Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện các văn bản chỉ đạo của Đảng về đối ngoại trong nhiệm kỳ Đại hội XIII. Số liệu quản lý của Sở Ngoại vụ.
[21] Các vụ việc liên quan đến người nước ngoài đến sinh sống, làm việc, du lịch tại Hải Phòng.
[22] Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/01/2019 về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045