Đổi mới công tác đối ngoại hướng tới xây dựng và phát triển thành phố xanh

Trong giai đoạn hiện nay, trước tình trạng suy thoái tài nguyên thiên nhiên, sự gia tăng nhanh chóng phát thải khí nhà kính, ảnh hưởng to lớn của biến đổi khí hậu toàn cầu, làm thế nào để có thẻ phát triển bền vững là yêu cầu tất yếu đối với tất cả các quốc gia, dân tộc. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Kết luận Hội nghị TW 3 (khoá XI) đã xác định nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với tái cơ cấu nền kinh tế nhằm đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững. Trên phạm vi toàn cầu, con đường phát triển bền vững mà cộng đồng quốc tế đang đồng thuận lựa chọn và nỗ lực hướng tới là “tăng trưởng xanh”, nền “kinh tế xanh”. Đây là những nội dung còn khá mới mẻ cả về lý thuyết và thực tiễn đối với thế giới và Việt Nam. Ý tưởng về nền “kinh tế xanh” được Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) khởi xướng năm 2008 và được Liên Hợp Quốc kêu gọi các quốc gia và các tổ chức liên quan tham gia xây dựng tại Hội nghị thượng đỉnh Rio +20. Khái niệm “nền kinh tế xanh” là nền kinh tế vừa mang lại hạnh phúc cho con người, công bằng cho xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các rủi ro, tai biến về môi trường và khủng hoảng sinh thái. Đây là nền kinh tế phần lớn sử dụng năng lượng sạch, thần thiện với môi trường, giảm phát thải khí nhà kính, giảm thiểu biến đối khí hậu, hoa tốn ít nhiên liệu, đổi mới công nghệ, phát triển ngành công nghiệp sinh thái, tăng trưởng và phát triển bền vững.

Đổi mới công tác đối ngoại  hướng tới xây dựng và phát triển thành phố xanh  
Trong giai đoạn hiện nay, trước tình trạng suy thoái tài nguyên thiên nhiên, sự gia tăng nhanh chóng phát thải khí nhà kính, ảnh hưởng to lớn của biến đổi khí hậu toàn cầu, làm thế nào để có thẻ phát triển bền vững là yêu cầu tất yếu đối với tất cả các quốc gia, dân tộc. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Kết luận Hội nghị TW 3 (khoá XI) đã xác định nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với tái cơ cấu nền kinh tế nhằm đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững. Trên phạm vi toàn cầu, con đường phát triển bền vững mà cộng đồng quốc tế đang đồng thuận lựa chọn và nỗ lực hướng tới là “tăng trưởng xanh”, nền “kinh tế xanh”. Đây là những nội dung còn khá mới mẻ cả về lý thuyết và thực tiễn đối với thế giới và Việt Nam. Ý tưởng về nền “kinh tế xanh” được Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) khởi xướng năm 2008 và được Liên Hợp Quốc kêu gọi các quốc gia và các tổ chức liên quan tham gia xây dựng tại Hội nghị thượng đỉnh Rio +20. Khái niệm “nền kinh tế xanh” là nền kinh tế vừa mang lại hạnh phúc cho con người, công bằng cho xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các rủi ro, tai biến về môi trường và khủng hoảng sinh thái. Đây là nền kinh tế phần lớn sử dụng năng lượng sạch, thần thiện với môi trường, giảm phát thải khí nhà kính, giảm thiểu biến đối khí hậu, hoa tốn ít nhiên liệu, đổi mới công nghệ, phát triển ngành công nghiệp sinh thái, tăng trưởng và phát triển bền vững.

Hiện nay, trên thế giới có nhiều quốc gia, địa phương đã xây dựng thành công mô hình thành phố xanh như: Reykjavik (Ai-len), Vancouver (Canada), Copenhagen (Đan Mạch), Portland (bang Oregon, Hoa Kỳ), Kitakyushu (Nhật Bản),… Mô hình thành phố xanh sẽ là định hướng phát triển chung của các đô thị trên thế giới trong tương lai. Ngày 17/3/2014, Ban Thường vụ Thành uỷ Hải Phòng đã ban hành Kế hoạch số 72-KH/TU nhằm triển khai thực hiện Kết luận số 72-KL/TW của Bộ Chính trị khoá XI về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 32-NQ/TW về “xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấy nước”, trong đó nhấn mạnh mục tiêu đưa Hải Phòng trở thành “thành phố Cảng xanh, văn minh, hiện đại trước năm 2020”. Đối với thành phố, kết hợp hoàn thành tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng thành phố Cảng xanh là công cuộc đầy khó khăn, thách thức. Trước hết là huy động nguồn vốn cho chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng tăng tỉ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ, xây dựng hạ tầng đô thị xanh, nghiên cứu, sử dụng năng lượng tái tại, xây dựng xã hội các-bon thấp, khôi phục hệ sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học, giải quyết sinh kế gắn với phục hồi môi trương,… Thứ hai, làm thế nào để phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, có kiến thức, kỹ năng, trình độ quản lý đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành công nghệ cao, dịch vụ, hướng đến xây dựng nền kinh tế tri thức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Thứ ba, cần phải đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường, tiên tiến, xanh hoá sản xuất, hiện đại hoá và sạch hoá nông nghiệp,…

Để thực hiện thành công tác mục tiêu, nội dung trên, việc huy động, tận dụng tối ưu các nguồn ngoại lực là hết sức quan trọng. Thành phố cần tích cực tranh thủ đón bắt, tận dụng, thu hút hiệu quả nguồn vốn, đặc biệt thu hút nguồn vốn FDI, ODA, công nghệ cao, phát triển nhân lực từ hoạt động hợp tác quốc tế, xúc tiến, thu hút đầu tư, kết nối giao thương,… Đây chính là nhiệm vụ, mục tiêu trọng tâm mà công tác đối ngoại tập trung triển khai trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ những định hướng trên, công tác đối ngoại của thành phổ cần tập trung thực hiện một số nhóm giải pháp chủ đạo sau:

Nâng cao vai trò quan trọng của công tác tuyên truyền, thông tin đối ngoại nhằm quảng bá hình ảnh, môi trường đầu tư, chính sách phát triển của thành phố ra thế giới. Đổi mới phương thức, hình thức, chất lượng  công tác truyền thông, đa dạng hoá hình thức tuyên truyền đối ngoại như: xuất bản Bản tin, xây dựng trang thông tin điện tử đối ngoại Hải Phòng, cung cấp quà tặng, ấn phẩm giới thiệu thành phố đa ngôn ngữ, tổ chức các hoạt động văn hóa đối ngoại,… hướng tới giới thiệu tiềm năng cơ hội hợp tác, các danh mục kêu gọi đầu tư về phát triển xanh, tập trung xúc tiến, thu hút du lịch. Tranh thủ, tận dụng sự ủng hộ của báo chí, thông tấn, truyền hình nước ngoài thông qua việc quản lý đúng quy định, hướng dẫn và giúp đỡ các đoàn phóng viên, báo chí nước ngoài đến quay phim, ghi hình, phỏng vấn, tác nghiệp,... làm cho các đối tác, bạn bè quốc tế ngày càng hiểu biết đầy đủ hơn về thành phố và con người Hải Phòng. Tích vực vận động sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với hồ sơ đề cử quần đảo Cát Bà trở thành di sản thiên nhiên thế giới.

Tranh thủ sự hỗ trợ về tài chính cũng như kỹ thuật từ cộng đồng quốc tế cho các khu vực kinh tế xanh vì hiện nay ưu tiên nguồn vốn của các tổ chức quốc tế, các nước phát triển, Liên Hợp Quốc đang chuyển dịch vào lĩnh vực này. Tích cực tổ chức các hoạt động trao đổi đoàn, vận động thu hút đầu tư nước ngoài, nguồn vốn hỗ trợ phát triển từ các đối tác trong khu vực và thế giới tập trung vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, cảng biển, phát triển các ngành dịch vụ,… Tăng cường đẩy mạnh quan hệ hợp tác theo chiều sâu với các tổ chức quốc tế, các thành phố, các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các đối tác chiến lược tại các quốc gia: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Mỹ, các nước trong Liên minh Châu Âu (EU),… tiêu biểu như: Kitakyushu (Nhật Bản), Incheon (Hàn Quốc), Viên Chăn (Lào), Shihanuc (Campuchia), Brest (Pháp), Seatle (Hoa Kỳ),… Theo dõi, rà soát, đôn đốc việc thực hiện các thỏa thuận quốc tế đã ký kết của Hải Phòng và các địa phương bạn, đặc biệt trong hợp tác nông nghiệp với vùng Ramat Negev (Ixrael), vùng lãnh thổ Bắc Úc, trao đổi về thông tin, công nghệ, công tác bảo tồn sinh thái giữa Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà.Khu Dự trữ sinh quyển Daodohae (quận Shinan, tỉnh Jeollanam-do, Hàn Quốc),…

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế theo chiều sâu về các lĩnh vực môi trường, xây dựng và phát triển đô thị sinh thái, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển công nghệ sạch, công nghệ sạch, xử lý rác thải, cấp và thoát nước đô thị,… Tích cực duy trì quan hệ với các đối tác Nhật Bản như: Hiệp hội xúc tiến phát triển khu vực, Cục Môi trường Kitakyushu, Trung tâm ASEAN - Nhật Bản (AJC), các công ty môi trường,… nhằm tập trung đón bắt một số dự án lớn nguồn vốn ODA của Nhật Bản về xử lý rác thải. Triển khai dự án hợp tác với Kitakyushu (Nhật Bản) về xây dựng Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh theo mô hình thành phố Kitakyushu và thực hiện 4 tiểu dự án bảo vệ môi trường nhằm xây dựng Hải Phòng thành thành phố xanh, thân thiện với môi trường. Hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp nhận và triển khai ứng dụng công nghệ mới theo  Chương trình IPP của Phần Lan; triển khai kết quả Hội nghị thế giới lần thứ 57 của Hiệp hội khoa học hệ thống quốc tế (ISSS 2013).

Tích cực thúc đẩy quan hệ hợp tác trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; hỗ trợ các trường trung học, tiểu học trong việc giao lưu kết nghĩa với các trường của nước ngoài. Phối hợp và hỗ trợ các trường thuộc hệ thống giáo dục dạy nghề, đại học và sau đại học, các viện nghiên cứu tham gia ký kết với các tổ chức quốc tế trong công tác đào tạo, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu khoa học,…

Tăng cường thu hút viện trợ phi chính phủ nước ngoài, tập trung trong các lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; ứng phó với biến đổi khí hậu; rà phá bom mìn, vật liệu nổ sau chiến tranh, hỗ trợ chuyên gia, tình nguyện viên,… Đẩy mạnh công tác thu hút kiều hối, vận động kiều bào tích cực đầu tư các dự án đầu tư tại Hải Phòng đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ,…

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý đối ngoại; tăng cường vai trò của cơ quan đối ngoại địa phương, phát triển dịch vụ đối ngoại. Nâng cao nhận thức của các cấp, ngành, địa phương về vai trò của công tác đối ngoại; hoàn thiện hệ thống các văn bản quản lý đối ngoại trên địa bàn thành phố, phát huy vai trò của thanh tra ngoại giao; xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại năng động, chuyên nghiệp, tinh nhuệ. Thắt chặt, củng cố quan hệ với các tổ chức quốc tế, các cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài, các cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam, các tập đoàn, doanh nghiệp nước ngoài lớn,… Xây dựng các trung tâm hợp tác phát triển của Hải Phòng tại một số nước như: Nhật Bản, Hàn Quốc,..

Phát huy vai trò hạt nhân của doanh nghiệp thành phố trong mặt trận đối ngoại nhân dân. Kết nối các hoạt động đối ngoại doanh nghiệp với chương trình đối ngoại của thành phố. Thường xuyên tổ chức các hội nghị, hội thảo, hội chợ quốc tế nhằm giới thiệu, quảng bá môi trường đầu tư, một số doanh nghiệp uy tín của thành phố với các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ, công nghệ cao, nông nghiệp, dịch vụ,...

Xây dựng mạng lưới hợp tác, hội nhập quốc tế của thành phố với các mắt xích là bộ phận, cán bộ chuyên trách làm công tác đối ngoại tại các sở, ban, ngành, quận, huyện; thành lập Ban Hội nhập quốc tế thành phố là đầu mối chỉ đạo. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, kiến thức về hội nhập quốc tế (luật pháp quốc tế, điều ước, cam kết,..) cho cán bộ làm công tác đối ngoại.

Kết luận

Trong thời gian tới, trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới và trong nước sẽ đặt ra những thách thức không nhỏ đối với công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội thành phố. Do đó, công tác đối ngoại thành phố cần tập trung, nỗ lực hơn nữa nhằm tạo được bước đi bứt phá, tranh thủ, đón bắt nguồn lực từ quá trình hợp tác, hội nhập quốc tế mang lại để có thể hoàn thành mục tiêu xây dựng Hải Phòng trở thành phố Cảng xanh, văn minh, hiện đại trước năm 2020./.

Nguyễn Anh Tuân, Giám đốc Sở Ngoại vụ
 

QR Code
image advertisement
image advertisement

  image advertisement

image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
 

 

 

Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tháng: 0
  • Tất cả: 0