Sở Ngoại vụ triển khai công tác hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật theo định hướng mới của thành phố
Nhằm thực hiện đồng bộ, kịp thời và chất lượng nhiệm vụ hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) trên địa bàn thành phố, Sở Tư pháp Hải Phòng đã ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết các sở, ban, ngành triển khai Kế hoạch số 310/KH-UBND ngày 10/8/2026 của Ủy ban nhân dân thành phố. Đây là bước đi cần thiết để cụ thể hóa việc thi hành Pháp lệnh số 01/2026/UBTVQH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản QPPL và Nghị định số 250/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về kỹ thuật trình bày văn bản hợp nhất. Việc nắm vững các hướng dẫn nghiệp vụ sẽ giúp Sở Ngoại vụ chuẩn hóa quy trình tham mưu, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực đối ngoại.

Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật là quá trình ghép (tích hợp) nội dung của văn bản QPPL gốc (văn bản được sửa đổi, bổ sung) với nội dung của các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính liên quan để tạo thành một văn bản duy nhất. Hoạt động này giúp người đọc dễ dàng theo dõi, áp dụng pháp luật mà không phải đối chiếu, tra cứu cùng lúc nhiều văn bản khác nhau. Việc thực hiện hợp nhất văn bản được xác định là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm tính kịp thời, thống nhất, hiệu quả và nâng cao chất lượng của hệ thống pháp luật.
Để tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động của ban lãnh đạo cũng như đội ngũ công chức, Sở Ngoại vụ tổ chức quán triệt đầy đủ ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng của nhiệm vụ hợp nhất văn bản QPPL. Trong đó, đặc biệt lưu ý các nội dung đổi mới then chốt sau:
Bổ sung quy định hợp nhất đối với văn bản QPPL của cơ quan nhà nước ở địa phương (bao gồm cấp tỉnh và cấp xã).
Mở rộng đối tượng hợp nhất bao gồm cả các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính, bãi bỏ một phần, hết hiệu lực một phần, tạm ngưng hiệu lực một phần hoặc công bố tiếp tục có hiệu lực một phần của văn bản QPPL đã được ban hành trước đó.
Xác lập nguyên tắc song hành: Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản sửa đổi, bổ sung phải có trách nhiệm chuẩn bị dự thảo phần nội dung hợp nhất để trình đồng thời với dự thảo văn bản sửa đổi, bổ sung khi trình cơ quan, người có thẩm quyền thông qua hoặc ban hành.
Chuẩn hóa chế độ báo cáo: Thực hiện báo cáo định kỳ hàng năm về công tác hợp nhất văn bản gửi Bộ Tư pháp hoặc khi có yêu cầu từ cơ quan có thẩm quyền.
Trong vai trò là cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố, khi Sở Ngoại vụ được giao chủ trì soạn thảo các văn bản sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực đối ngoại, đơn vị có trách nhiệm chuẩn bị dự thảo phần nội dung hợp nhất để trình đồng thời với dự thảo văn bản sửa đổi, bổ sung.
Về thời hạn hoàn thành và trình ký xác thực văn bản hợp nhất (do Chủ tịch UBND thành phố ký xác thực đối với văn bản cấp tỉnh), Sở Ngoại vụ cần tuân thủ nghiêm ngặt hai mốc thời gian quy định:
Trường hợp 1 (Văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực sau 07 ngày kể từ ngày thông qua/ký ban hành): Phải hoàn thành việc hợp nhất và trình ký xác thực trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày văn bản sửa đổi, bổ sung được thông qua hoặc ký ban hành.
Trường hợp 2 (Văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực trong vòng 07 ngày kể từ ngày thông qua/ký ban hành): Văn bản hợp nhất phải được ký xác thực chậm nhất là vào ngày có hiệu lực của văn bản sửa đổi, bổ sung.
Việc trình bày văn bản hợp nhất phải tuân thủ nghiêm chỉnh kỹ thuật quy định tại Chương III Pháp lệnh Hợp nhất văn bản QPPL và Phụ lục kèm theo Nghị định số 250/2026/NĐ-CP. Sở không thực hiện hợp nhất đối với các văn bản thuộc trường hợp đặc thù, thí điểm quy định tại Nghị quyết số 190/2025/QH15, Nghị quyết số 206/2025/QH15, và một số quy định khác của Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu hiện nay là tiến hành rà soát, hệ thống hóa các văn bản QPPL được ban hành trước ngày 01/7/2026 và vẫn đang còn hiệu lực thi hành. Sở Ngoại vụ khẩn trương thực hiện rà soát trong phạm vi lĩnh vực quản lý của mình để xác định đối tượng hợp nhất, lập danh mục và gửi về Sở Tư pháp tổng hợp trước ngày 30/9/2026, chia làm hai nhóm: (1) Danh mục văn bản cần thực hiện hợp nhất (theo Mẫu số 01); (2) Danh mục văn bản đề xuất không thực hiện hợp nhất (theo Mẫu số 02) kèm theo lý do cụ thể, rõ ràng (ví dụ: văn bản đã được đề xuất thay thế, bãi bỏ toàn bộ hoặc đã được chấp thuận đăng ký xây dựng văn bản mới thay thế...).
Để công việc được triển khai thông suốt, Sở Ngoại vụ phân công đơn vị và cán bộ đầu mối chịu trách nhiệm chủ trì báo cáo, cung cấp thông tin về tình hình thực hiện hợp nhất văn bản. Sau khi thống nhất danh mục với Sở Tư pháp, Sở Ngoại vụ khẩn trương tổ chức thực hiện việc hợp nhất các văn bản này, đảm bảo hoàn thành toàn bộ trước ngày 30/12/2026.